Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2017
Thứ Năm, 26 tháng 1, 2017
Chùm nhãn lồng chín mọng
Mười sáu tuổi
chị đi lấy chồng. Chồng chị và chị không biết mặt nhau cho đến ngày đi coi mắt.
Trước ngày đám cưới, lâu lâu anh qua làm rể, chị và anh cũng không nói chuyện
để làm quen…
Chị hay kể
chuyện cuộc đời mình cho con cháu nghe, để chúng thấy bây giờ chúng sung sướng
hơn nhiều. Chúng được yêu, được chọn lựa vợ chồng…Không như chị. Rất may cho
chị gặp anh hiền, hai năm trời chị không cho anh đụng vào người mình, vậy mà
sau đó chị sanh cho anh tới sáu đứa con. Bây giờ già rồi, ngồi nhắc lại chuyện
xưa để cười vui. Mấy đứa cháu của chị nó thích nghe chị kể chuyện làm dâu, nghe
y như chuyện cổ tích, thiệt lạ! Con dâu không được bước lên nhà trên. Khi ăn
cơm, phải ngồi gần nồi cơm để bới cơm cho cả nhà, lo bới cơm không ăn được bao
nhiêu, đói từ ngày này qua ngày khác. Anh thương, dấu đồ ăn vô buồng cho chị
ăn. Rất may, anh là người biết lo. Rồi anh trốn quân dịch, chị ở nhà có bầu
thằng Hai, đẻ con, nuôi con một mình; thay anh phụng dưỡng cha mẹ anh và chăm
sóc tám đứa em chồng, vì anh là anh Hai. Chị ở nhà hết chuyện ngoài đồng thì
đến chuyện trong nhà. Con chị thì mấy đứa em chồng nó thay nhau giữ, chỉ có tối
chị mới được gần con, ôm con ngủ trong mệt mỏi rã rời, đến nỗi không còn cảm
giác thương nhớ anh là gì nữa.
Con Ba giận chồng
xách gói về nhà chị. Thương con chị không nói gì. Để từ từ cho nó nguôi giận
rồi chị khuyên răn nó. Hồi đó, chị làm dâu khổ trăm bề cũng cắn răng mà chịu,
“con gái chê chồng của một đền hai”, đi như vậy là “bôi tro trát trấu” lên mặt
cha mẹ mình, dòng họ mình. Nhưng bây giờ, chị hiểu con, chị không cảm thấy xấu
hổ gì, chỉ vì tiếng tăm hư ảo mà vô tình mình đẩy con gái mình vào chỗ chết
sao? Hỏi ra mới biết chồng nó đi uống bia ôm. Cái thằng coi “lù khù” vậy mà
“vác lu chạy”. Bạn bè bây giờ cũng lạ, khích nhau vài câu là chơi cho tới bến,
không kể gì tới vợ con. Đâu vài bữa, chị
tuyên bố: “Tao nuôi hết nỗi rồi, ai về nhà nấy đi”. Thằng rể mở cờ trong bụng,
rước vợ về gọn hơ (mới phạm tội lần đầu mà biết ăn năn, được tha bổng).
Con dâu thứ hai
sanh, mẹ nó mất, không chị em gái, con trai chị vụng về, thôi thì chị đi
nuôi…Hồi đó, chị sanh con đầu lòng, má chị không cho chị bước xuống đất đúng
một tháng. Nằm than, dằn bụng, xông hơ, uống nước đái con nít, ở dơ không gội
đầu, ăn kho quẹt trường kỳ…khổ dàn trời mây. Bây giờ, con dâu chị nó nghe lời
bạn bè, nó sợ cho con bú xấu, nó tập con nó bú sữa bình. Nó nghe lời bác sĩ, ăn
uống không kiêng cữ gì. Mới sanh có một ngày nó tập đi…cho máu huyết lưu thông.
Vì sợ cực, nó bọc thằng nhỏ trong tã giấy suốt, chị xót ruột vì thấy cháu mình
bị hăm, lở loét, da nó non quá mà làm sao chịu thấu. Hồi chị sanh ba nó, giấy
báo không có mà lót, phải cắt lá nhàu làm tã. Thằng cha nó lớn nhanh, học giỏi
không thua kém ai. Nhưng chị không nói ra làm gì, đời nào theo đời đó. Nói nó
ghét. Đời má chị không cho đàn bà học chữ, vì nếu biết chữ sẽ viết thư cho
trai. Đời chị thì được đi học, phụ nữ “bình quyền”, còn được làm công chức, nhà
văn, nhà thơ…Nhưng đàn ông được năm thê bảy thiếp, đàn bà vẫn khổ dài dài…Bây
giờ đến đời con chị, nam nữ bình đẳng, một vợ một chồng, có luật hẳn hoi, mỗi
đời mỗi khác. Thương con, chị cho qua hết. Chị sống không bao lâu nữa, nói chi
cho nó ghét.
Chị có một người
bạn hàng xóm, vài bữa là qua khóc với chị. Má chồng ở chung con trai và nàng
dâu. Bà nội thương cháu nội, có gì ngon cũng để dành cháu nội ăn. Một hôm bà
nội phát hiện ra nàng dâu nói với con mình: “Con không được ăn, dơ lắm”. Chị
nhớ hồi đó, khi bà nội nó sanh thằng cha nó, bị bệnh sốt rét, da vàng khè, xanh
chành, không đủ sữa cho con bú. Nó đói, nó khóc, dỗ hoài không nín, phải ẵm đi
giáp làng giáp xóm. Gặp năm đói khổ, bà con thương tình có gì cho nấy, chỉ có
nước cơm với đường hoặc cháo trắng…Vậy mà thằng nhỏ lớn, mạnh cùi cụi. Bà nội ở
chung với con cháu mà suốt ngày như cái bóng thật là tội. Con dâu nó chê bà dơ,
nó không nói ra, nhưng bà biết. Nó không cho bà ẵm con nó đi qua hàng xóm, nó
nói ngoài đường có nhiều vi trùng. Nó đâu biết rằng chồng của nó hồi nhỏ hết
người này tới người kia bồng ẵm, lê la khắp xóm…Cái thời chị và bà bạn hàng xóm
của chị, có một anh chăn trâu, ăn thì ăn gạo sống, uống thì uống nước vũng
(thấy nước trong trong là lấy tay bụm lên uống), mãn năm, mãn tháng có thấy ảnh
đau ốm gì, mạnh sần. Thấy tình cảnh bạn, chị nghĩ đến mình. Chị ở một mình,
không có gì đụng chạm. Có điều, ở một mình buồn…nhớ…thương…
Thấy cái cần câu
nhớ thằng Hai (nó câu cá giỏi lắm, ai cũng nói nó có tay sát cá). Thấy mấy bình
hoa vải nhớ con Ba (nó ham nên học lóm người ta về làm, đẹp không thua ai)…Ngồi
buồn chị soạn quần áo cũ, nhớ từng đứa, từng đứa…Nhớ ngày sanh chúng ra, đến ăn
thôi nôi, đứa nào bắt cái gì chị còn nhớ. Thằng Hai, ngủ một giấc dậy đói bụng,
khi cho một mâm đồ để bắt một thứ, nó chớp cục xôi rồi ngồi ăn ngon lành, ai
cũng nói thằng này số sướng, có người làm sẵn cho nó ăn. Mấy đứa con gái thì
bắt cây viết, cái kéo, cái lược…Chỉ có con Tư thì không bắt gì. Nó nhìn hết cái
mâm, rồi ngồi buồn so. Mọi người thúc giục: “Bắt đi con, của con đó, bắt đi!”.
Nó nhìn mọi người rồi nhìn chị, nó đứng dậy ôm chị, dấu mặt trong ngực chị. Những
người lớn tuổi nói: “Con nhỏ này không ham gì, chắc sau này đi tu”. Cuối cùng
nó không chờ lớn để đi tu, nó bỏ chị đi lúc vừa bốn tuổi.”Con khôn không phải
con mình”, ông bà mình hay nói như vậy. Nó mới bốn tuổi mà nó đọc thuộc lòng
hết sách tập đọc của chị nó, không sai một chữ, chị mừng thấy con mình thông
minh nhưng chị cũng lo…Nó đang chạy chơi
với anh chị nó, bỗng dưng nó xỉu xuống, giựt giựt vài cái rồi đi luôn. Chồng
chị bồng con trên tay, con nhỏ nằm dịu nhỉu, ấm hỉm. Chị làm sao quên được cái
cảm giác chồng chị và mấy người hàng xóm cưa bộ ván đóng quách cho con. Mỗi đứa
con là một núm ruột của chị. Phải chi nó đau bệnh, chạy chữa cho nó hết tiền
hết bạc chị không hối hận, nó đi đột ngột…chị không đành lòng.
Nhìn lên bàn thờ
thấy anh. Anh đi cũng đột ngột như con Tư. Anh ở ngoài vườn mía, vô nhà uống
chưa hết ly nước trà, anh than mệt, chị khuấy ly nước chanh chưa tan đường thì
anh đi…Nay đã bốn năm rồi…Vườn rộng thênh thang, ngôi nhà này nhìn đâu cũng
thấy hình bóng chồng con, nhìn đâu cũng thấy kỉ niệm…Chị nuôi mấy con mèo cho
vui, mèo mẹ đẻ mèo con…lớn nhỏ tám con. Nhờ có nó, chị nấu cơm đúng bữa cho nó
ăn rồi chị ăn luôn.
Con chị nó gắn
điện thoại để tiện liên lạc với chị. Tụi nó lúc nào cũng bận rộn, nên ít khi
gọi cho chị. Nhớ con cháu quá, chị gọi. Nói vài câu thì chúng cúp máy…Chị an ủi
mình: “Nước mắt chảy xuôi”. Khi điện thoại reo là y như rằng: “Má ơi, thằng Nam
nằm nhà thương, má lên phụ con”; “Vợ chồng con đi công tác vài ngày, mà lên ở
với con Dung dùm con”; “Chị giúp việc nghỉ rồi, con chưa tìm được người, má coi
dưới quê có ai mướn dùm con”; …
Vui nhất và bận
rộn nhất là mấy tháng hè. Cháu chị nó về thăm chị. Tụi nó giỡn, nó chơi, nó bày
đầy nhà…chị vẫn vui. Tối nó quấn bên chưn chị để nghe chị kể chuyện đời xưa.
Chị thấy mình không bất hạnh như bà bạn hàng xóm.
Sáng nay, chị đi
tìm hái nhãn lồng chín. Lúc còn nhỏ, con chị đứa nào cũng thích ăn nhãn lồng
chín. Mỗi khi đi làm ruộng về chị hay tìm hái cho chúng. Chị cột những trái
nhãn lồng thành từng chùm. Bên ngoài từng trái nhãn lồng vàng có bọc một lớp
màu xanh, giống cái lồng. Thật là thích thú khi bóc cái lồng, giựt cuống, có
một cái lỗ trống rồi đưa lên miệng mút, vừa thơm, vừa chua chua, ngọt ngọt…Ăn
hết một chùm vẫn còn thấy thèm. Chị hớn hở mang về cho cháu, mỗi đứa một chùm.
Chưa kịp nghe bà chỉ cách ăn thì nàng dâu của bà lên tiếng: “Má vô ăn sáng”.
Thấy nó nhìn mấy đứa nhỏ bà biết. Bà nghe lỏm bỏm: “ăn chết”, “dơ lắm”, “rửa
tay ngay”,…Ừ, dù sao nó nói cũng không để chị nghe, tại vô tình chị nghe…
Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2016
Dòng chảy
Tôi cầm túi xách bước vào bến xe. Chưa kịp định hướng thì có một chú trẻ chạy tới:
- Về đâu, về đâu chị? Chị lên xe kiếm chỗ ngồi đi, để em xách cho.
Chú vừa nói vừa đẩy tôi lên xe, không kịp cho tôi phản ứng gì. Tôi đinh ninh chú là lơ xe nên giao túi xách rồi lên xe. Tôi tìm cho mình một chỗ ngồi thật an toàn. Anh Hai dặn, lên xe đừng ngồi gần tài xế nghen, lỡ có tai nạn thì …tan xác. Thôi ngồi chính giữa cho chắc ăn!
- Nè, uống nước đi chị!
Tôi tròn xoe mắt. Trời, không ở đâu lơ xe tốt như ở đây! Tôi cảm ơn rối rít:
- Cảm ơn em, chị uống rồi, em uống đi!
Cái mặt hớn hở của chú trẻ xìu xuống như bánh bao chiều:
- Em bán nước mà chị biểu em uống?
Tôi nhìn bịt nước đong đưa trên tay em. Tự nhiên mình trở thành kẻ ngớ ngẩn như người ngoài hành tinh. Tôi hốt hoảng tìm giỏ xách, may mà còn!
Xe nổ máy. Tôi định mua cái gì đó ăn nhưng sợ xe chạy nên thôi. Quả thật uổng công, xe ầm ầm, rùng rùng nhưng vẫn còn nuối tiếc đứng một chỗ vì khách chỉ có chục người. Có một vài hành khách hối hả chạy đến vì sợ lỡ chuyến.
Lướt qua tôi là những ngôi biệt thự, trông thật nguy nga, lộng lẫy. Tôi sợ người chủ nhà tiếp khách qua hàng rào sắt, có cổng khóa (bạn em, chị không biết nên chị không cho vô, tôi đành gởi quà rồi về). Càng sợ hơn khi cửa mở, con chó bẹc giê to xồ nhảy xổ tới (kẻ gian nhiều nên người ta phải có cách giữ nhà, cũng dễ hiểu). Chia tay thành phố năng động, ồn ào, đầy bụi khói, tôi trở về quê mẹ thân yêu, chưa kịp chia tay với anh. Về, mang theo nỗi buồn không tả. Hẹn mà không đến. Tiếng “Quên” trong điện thoại của anh gọn lỏn. Tôi bận thi, anh bận đi làm, đi tiếp khách. Gần tết rồi, bận lắm. Ai cũng bận. Ngưu Lang, Chức Nữ dù hẹn gặp nhau có một lần vào tháng bảy, nhưng không bao giờ trễ hẹn. Tháng bảy năm nào họ cũng được ôm nhau khóc lóc rả rích. Còn tôi và anh? Hẹn, lỡ hẹn. Hẹn, lỡ hẹn…
Có hai hành khách lên xe, hai cô gái nhỏ, họ tìm ghế có hai chỗ ngồi. Hành khách trên xe cười chế nhạo:
- Thử ngồi xa coi có chết hôn?
Phải chi có ai đó nhường cho chúng một ghế ngồi có hai chỗ cho chúng được kéo dài cảm giác chúng được bên nhau, không rời. Tôi nhớ cô học trò nhỏ của tôi, em thắt cổ chết. Em viết trong nhật ký rằng không ai hiểu em, không ai trả lời những câu hỏi cho em, thế là chết. Trong số thư từ của em, có một bức viết cho người bạn gái thân, còn hẹn kiếp sau sẽ là chị em ruột. Chắc chúng tưởng “ruột” là thân thương, bền chặt lắm vì có: chung cha mẹ, anh em, chung nhà, chung …nhiều thứ. Anh H. kể với tôi anh có hai em gái và một bà mẹ. Em gái anh làm đĩ.
- Mẹ anh biết không?
- Biết.
Tôi tắc tị. Tôi hình dung cuộc sống của anh qua lời kể. Tắm, xách thùng ra sông. Khát, qua nhà hàng xóm xin nước máy. Căn nhà nhỏ nuôi cá kiểng, loại cá một tháng không cho ăn gì vẫn sống (vì chủ nó hay đi vắng). Trên giá sách, hầu hết là sách cũ, giảm giá. Trên đó có nhiều sách của Đại học Tổng hợp (anh đang học).
Lướt qua tôi là những căn nhà lụp xụp: nhà lá, nhà thiết, nhà giấy…như những mục ghẻ to nhỏ, chi chít, chỗ lở loét, chỗ mới kéo da non…Rác, rác bày ra, lũ con nít và cả người lớn không sợ dơ, hôi, đã chơi với nó, bới, bới…Cũng như anh H.
- Chạy xích lô ế quá, phải đi bới rác thêm.
- Năm ngoái anh đi làm thợ hồ?
- Có, nhưng chịu không nổi. Phụ hồ cực lắm. Đi bới rác có khi trúng cũng được khá.
Tôi nhớ thầy dạy Từ vựng, người ta bới rác còn lựa ra nhiều loại: nhựa, sắt, nhôm, thủy tinh…Thầy thì không, thầy giảng từ: nách, quần đùi, vú…Hôm qua tôi giỡn với bé gái ba tuổi, tôi giơ tay dí dí:
- Mò vú nó!
- Tụi tĩu quá, cô tục tĩu quá! Nó la lên hốt hoảng.
Sáng sáng, trưa trưa, anh đi bới rác, tiền gởi ngân hàng. Thỉnh thoảng anh đi du lịch: Cà Mau, Lạng Sơn…bằng xe đạp.
- Anh vượt Trường Sơn bằng cách nào?
- Dắt xe đạp chín ngày đêm.
- Ăn, ngủ?
- Bụi.
Xe dừng ở một trạm xăng. Một đám người ùa lên xe. Bà ngồi cạnh tôi bị tấn công. Trong giỏ bà đầy họ để đầy ắp: kẹo, nước, bánh mì…Bà càm ràm:
- Ai ăn đâu mà mua!
- Bà không ăn, cháu bà ăn!
Đứa cháu nảy giờ ngồi im ru, bỗng la lớn:
- Con không ăn!
- Không ăn, xách về nhà ăn!
Tội nghiệp bà lão hiền lành, bà móc tiền ra trả đủ, cho yên. Một bài quảng cáo dài ngoẵng phát ra từ chiếc máy thu băng nghe chát tai. Một công ty gì đó ở Đài Loan, hợp tác với công ty gì đó ở Việt Nam, chế ra thuốc nhân sâm, gồm có chất A, B, C,…; trị bệnh D, E, F,…Giá gốc sáu ngàn đồng một viên, nay khuyến mãi ba ngàn đồng. Mỗi người chỉ mua được một vỉ năm viên. Nghe hạ giá phân nửa, người ta mua ào ào. Tự nhiên tôi muốn thành Tề Thiên Đại Thánh để trừ yêu quái lộng hành. Hôm qua, cuối đợt học, ai đó đề nghị liên hoan. Người đòi đi Vũng tàu, người đòi đi nhà hàng…Tôi ngồi im ru. Trong túi chỉ còn đủ tiền về xe. Số còn lại đã mua sách cho con. Anh H. ngồi lặng lẽ ở góc lớp. Anh nói đi đâu cũng nghe bia bọt, tưởng cái lớp hàm thụ này không có. Mọi người đang bàn ăn gì, ở đâu, mời những thầy cô nào?...thì anh H. khoe với tôi quyển sách anh mới mua ở hiệu sách cũ, đó là quyển: “Nhật ký trong tù”, xuất bản năm 76.
- Hai đồng (hai ngàn).
- Trời, rẻ thiệt!
Anh thở dài, tay anh lật qua lật lại những tờ giấy. Đôi tay dính đủ màu của rác…
- Ngoại, coi kìa ngoại!
Bé gái ngồi cạnh tôi hét lên. Tôi nhìn theo. Một cái nhà mồ mới xây, màu sắc rực rỡ. Ai được chôn trong nhà mồ đó, có hạnh phúc không? Nhưng chắc chắn người bỏ tiền xây nó sẽ mãn nguyện lắm! Nhà của người chết cũng đủ loại: đất, đá ong, đá rửa, xi măng, gạch men… Xây thành từng đôi, từng khu cho cả dòng họ. Không ai muốn chia lìa, cho dù đã chết. Con người ta sống gần nhau được bao lâu? Tôi và anh là nhân chứng, anh H. và vợ ảnh là nhân chứng.
- Anh được mấy cháu?
- Chưa, thì bà ấy đi rồi.
Sài Gòn giải phóng, anh học xong tú tài, đi thanh niên xung phong: khai hoang; tải đạn, cứu thương ở chiến trường Cam pu chia. Giải ngũ, anh làm công nhân cho xí nghiệp sửa chữa ô tô. Công ty giải thể, anh đạp xích lô. Đêm, anh đi học Đại học Kinh tế mở. Ngày, anh đạp xích lô chở khách, không dè đó là cô bạn học cùng lớp đêm.
- Anh và chị cưới nhau thế nào?
- Bà ấy tự đến rồi tự đi.
- Bao lâu?
- Bốn năm.
- Anh học Đại học Kinh tế sao không tìm việc làm?
- Học mới hai năm, mẹ tôi bị bắt ở tù, tôi bỏ học đi làm kiếm tiền lo cho má tôi.
- Sao ở tù anh?
- Làm Tú bà.
- Anh có biết vì sao chị ấy đi không?
Anh không trả lời. Tôi hình dung trong căn nhà anh, má anh làm Tú bà, em gái anh làm đĩ, vợ anh là con nhà quyền quý, chị ấy sống với anh bốn năm là quá nhiều rồi.
Hành khách đã xuống xe gần hết. Cuộc sống này ví như hành khách trên chuyến xe. Kẻ trước, người sau, lần lượt...
- Về đâu, về đâu chị? Chị lên xe kiếm chỗ ngồi đi, để em xách cho.
Chú vừa nói vừa đẩy tôi lên xe, không kịp cho tôi phản ứng gì. Tôi đinh ninh chú là lơ xe nên giao túi xách rồi lên xe. Tôi tìm cho mình một chỗ ngồi thật an toàn. Anh Hai dặn, lên xe đừng ngồi gần tài xế nghen, lỡ có tai nạn thì …tan xác. Thôi ngồi chính giữa cho chắc ăn!
- Nè, uống nước đi chị!
Tôi tròn xoe mắt. Trời, không ở đâu lơ xe tốt như ở đây! Tôi cảm ơn rối rít:
- Cảm ơn em, chị uống rồi, em uống đi!
Cái mặt hớn hở của chú trẻ xìu xuống như bánh bao chiều:
- Em bán nước mà chị biểu em uống?
Tôi nhìn bịt nước đong đưa trên tay em. Tự nhiên mình trở thành kẻ ngớ ngẩn như người ngoài hành tinh. Tôi hốt hoảng tìm giỏ xách, may mà còn!
Xe nổ máy. Tôi định mua cái gì đó ăn nhưng sợ xe chạy nên thôi. Quả thật uổng công, xe ầm ầm, rùng rùng nhưng vẫn còn nuối tiếc đứng một chỗ vì khách chỉ có chục người. Có một vài hành khách hối hả chạy đến vì sợ lỡ chuyến.
Lướt qua tôi là những ngôi biệt thự, trông thật nguy nga, lộng lẫy. Tôi sợ người chủ nhà tiếp khách qua hàng rào sắt, có cổng khóa (bạn em, chị không biết nên chị không cho vô, tôi đành gởi quà rồi về). Càng sợ hơn khi cửa mở, con chó bẹc giê to xồ nhảy xổ tới (kẻ gian nhiều nên người ta phải có cách giữ nhà, cũng dễ hiểu). Chia tay thành phố năng động, ồn ào, đầy bụi khói, tôi trở về quê mẹ thân yêu, chưa kịp chia tay với anh. Về, mang theo nỗi buồn không tả. Hẹn mà không đến. Tiếng “Quên” trong điện thoại của anh gọn lỏn. Tôi bận thi, anh bận đi làm, đi tiếp khách. Gần tết rồi, bận lắm. Ai cũng bận. Ngưu Lang, Chức Nữ dù hẹn gặp nhau có một lần vào tháng bảy, nhưng không bao giờ trễ hẹn. Tháng bảy năm nào họ cũng được ôm nhau khóc lóc rả rích. Còn tôi và anh? Hẹn, lỡ hẹn. Hẹn, lỡ hẹn…
Có hai hành khách lên xe, hai cô gái nhỏ, họ tìm ghế có hai chỗ ngồi. Hành khách trên xe cười chế nhạo:
- Thử ngồi xa coi có chết hôn?
Phải chi có ai đó nhường cho chúng một ghế ngồi có hai chỗ cho chúng được kéo dài cảm giác chúng được bên nhau, không rời. Tôi nhớ cô học trò nhỏ của tôi, em thắt cổ chết. Em viết trong nhật ký rằng không ai hiểu em, không ai trả lời những câu hỏi cho em, thế là chết. Trong số thư từ của em, có một bức viết cho người bạn gái thân, còn hẹn kiếp sau sẽ là chị em ruột. Chắc chúng tưởng “ruột” là thân thương, bền chặt lắm vì có: chung cha mẹ, anh em, chung nhà, chung …nhiều thứ. Anh H. kể với tôi anh có hai em gái và một bà mẹ. Em gái anh làm đĩ.
- Mẹ anh biết không?
- Biết.
Tôi tắc tị. Tôi hình dung cuộc sống của anh qua lời kể. Tắm, xách thùng ra sông. Khát, qua nhà hàng xóm xin nước máy. Căn nhà nhỏ nuôi cá kiểng, loại cá một tháng không cho ăn gì vẫn sống (vì chủ nó hay đi vắng). Trên giá sách, hầu hết là sách cũ, giảm giá. Trên đó có nhiều sách của Đại học Tổng hợp (anh đang học).
Lướt qua tôi là những căn nhà lụp xụp: nhà lá, nhà thiết, nhà giấy…như những mục ghẻ to nhỏ, chi chít, chỗ lở loét, chỗ mới kéo da non…Rác, rác bày ra, lũ con nít và cả người lớn không sợ dơ, hôi, đã chơi với nó, bới, bới…Cũng như anh H.
- Chạy xích lô ế quá, phải đi bới rác thêm.
- Năm ngoái anh đi làm thợ hồ?
- Có, nhưng chịu không nổi. Phụ hồ cực lắm. Đi bới rác có khi trúng cũng được khá.
Tôi nhớ thầy dạy Từ vựng, người ta bới rác còn lựa ra nhiều loại: nhựa, sắt, nhôm, thủy tinh…Thầy thì không, thầy giảng từ: nách, quần đùi, vú…Hôm qua tôi giỡn với bé gái ba tuổi, tôi giơ tay dí dí:
- Mò vú nó!
- Tụi tĩu quá, cô tục tĩu quá! Nó la lên hốt hoảng.
Sáng sáng, trưa trưa, anh đi bới rác, tiền gởi ngân hàng. Thỉnh thoảng anh đi du lịch: Cà Mau, Lạng Sơn…bằng xe đạp.
- Anh vượt Trường Sơn bằng cách nào?
- Dắt xe đạp chín ngày đêm.
- Ăn, ngủ?
- Bụi.
Xe dừng ở một trạm xăng. Một đám người ùa lên xe. Bà ngồi cạnh tôi bị tấn công. Trong giỏ bà đầy họ để đầy ắp: kẹo, nước, bánh mì…Bà càm ràm:
- Ai ăn đâu mà mua!
- Bà không ăn, cháu bà ăn!
Đứa cháu nảy giờ ngồi im ru, bỗng la lớn:
- Con không ăn!
- Không ăn, xách về nhà ăn!
Tội nghiệp bà lão hiền lành, bà móc tiền ra trả đủ, cho yên. Một bài quảng cáo dài ngoẵng phát ra từ chiếc máy thu băng nghe chát tai. Một công ty gì đó ở Đài Loan, hợp tác với công ty gì đó ở Việt Nam, chế ra thuốc nhân sâm, gồm có chất A, B, C,…; trị bệnh D, E, F,…Giá gốc sáu ngàn đồng một viên, nay khuyến mãi ba ngàn đồng. Mỗi người chỉ mua được một vỉ năm viên. Nghe hạ giá phân nửa, người ta mua ào ào. Tự nhiên tôi muốn thành Tề Thiên Đại Thánh để trừ yêu quái lộng hành. Hôm qua, cuối đợt học, ai đó đề nghị liên hoan. Người đòi đi Vũng tàu, người đòi đi nhà hàng…Tôi ngồi im ru. Trong túi chỉ còn đủ tiền về xe. Số còn lại đã mua sách cho con. Anh H. ngồi lặng lẽ ở góc lớp. Anh nói đi đâu cũng nghe bia bọt, tưởng cái lớp hàm thụ này không có. Mọi người đang bàn ăn gì, ở đâu, mời những thầy cô nào?...thì anh H. khoe với tôi quyển sách anh mới mua ở hiệu sách cũ, đó là quyển: “Nhật ký trong tù”, xuất bản năm 76.
- Hai đồng (hai ngàn).
- Trời, rẻ thiệt!
Anh thở dài, tay anh lật qua lật lại những tờ giấy. Đôi tay dính đủ màu của rác…
- Ngoại, coi kìa ngoại!
Bé gái ngồi cạnh tôi hét lên. Tôi nhìn theo. Một cái nhà mồ mới xây, màu sắc rực rỡ. Ai được chôn trong nhà mồ đó, có hạnh phúc không? Nhưng chắc chắn người bỏ tiền xây nó sẽ mãn nguyện lắm! Nhà của người chết cũng đủ loại: đất, đá ong, đá rửa, xi măng, gạch men… Xây thành từng đôi, từng khu cho cả dòng họ. Không ai muốn chia lìa, cho dù đã chết. Con người ta sống gần nhau được bao lâu? Tôi và anh là nhân chứng, anh H. và vợ ảnh là nhân chứng.
- Anh được mấy cháu?
- Chưa, thì bà ấy đi rồi.
Sài Gòn giải phóng, anh học xong tú tài, đi thanh niên xung phong: khai hoang; tải đạn, cứu thương ở chiến trường Cam pu chia. Giải ngũ, anh làm công nhân cho xí nghiệp sửa chữa ô tô. Công ty giải thể, anh đạp xích lô. Đêm, anh đi học Đại học Kinh tế mở. Ngày, anh đạp xích lô chở khách, không dè đó là cô bạn học cùng lớp đêm.
- Anh và chị cưới nhau thế nào?
- Bà ấy tự đến rồi tự đi.
- Bao lâu?
- Bốn năm.
- Anh học Đại học Kinh tế sao không tìm việc làm?
- Học mới hai năm, mẹ tôi bị bắt ở tù, tôi bỏ học đi làm kiếm tiền lo cho má tôi.
- Sao ở tù anh?
- Làm Tú bà.
- Anh có biết vì sao chị ấy đi không?
Anh không trả lời. Tôi hình dung trong căn nhà anh, má anh làm Tú bà, em gái anh làm đĩ, vợ anh là con nhà quyền quý, chị ấy sống với anh bốn năm là quá nhiều rồi.
Hành khách đã xuống xe gần hết. Cuộc sống này ví như hành khách trên chuyến xe. Kẻ trước, người sau, lần lượt...
Thứ Tư, 24 tháng 8, 2016
Khoảng trống
Biết mình tồn tại là dĩ nhiên mình chiếm 1 chỗ trống trong không gian. Giữa không gian bao la, ai cũng muốn được mọi người biết có mình, muốn mình chết đi để lại cái gì đó (cho mọi người đừng quên mình). Ôi làm người cũng thật tội nghiệp!
Nhưng rồi ta chợt nhận ra, trong ta cũng có một khoảng trống. Muốn đầy cũng thật khó!
Có những biến chuyển trong cơ thể, không ổn, ta rơi vào nỗi lo sợ. Nếu rời thế gian này sẽ về đâu, hay lại rơi vào khoảng trống khác?
Ta thất vọng về một người, một sự việc, lại một khoảng trống...
Muốn đầy thật khó?
Chủ Nhật, 7 tháng 2, 2016
Thứ Tư, 30 tháng 12, 2015
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)