Thứ Năm, 1 tháng 8, 2019


NHỚ LÁ CHUỐI, LÁ SEN NGÀY ẤY…
Hồi học tiểu học, những năm 70, tôi nhớ như in món khoai mì trộn dừa của bà Tư. Nó được gói bằng lá chuối. Mỗi sáng, bà bưng một thau khoai mì trộn dừa, một chén muối mè hay đậu phộng, cùng với một rổ lá chuối đã lau sạch, xé thành từng miếng bằng bàn tay. Mỗi khi có người mua, bà lấy lá chuối, xúc khoai mì vô, rắc  muối mè  lên rồi gói bốn góc lá lại (dĩ nhiên là có một chỗ trống để mình ăn). Nếu mua về nhà, bà lót thêm một miếng lá phía trên, kín mít. Ngày đó, trẻ con không có nhiều thức ăn để chọn lựa như bây giờ. Đi học, chỉ lót dạ bằng bánh khoai mì, khoai lang, xôi, bắp,... Nhưng hương vị ngọt, bùi,  béo, thơm mùi lá sen, lá chuối ấp ủ trong nó, khó mà quên. Sân trường lúc đó có rất ít rác, chủ yếu là dọn lá cây rụng.
Khi tôi lên cấp hai, mẹ tôi sắm cho tôi một cặp thùng, một cần gánh và một cặp móc, bà tập cho tôi gánh nước. Hai thùng nước đầy, gánh đi xa, dễ bị sánh nước đổ ra ngoài, nên mẹ tôi hái hai lá sen to, để lên mặt thùng. Mấy cô, mấy dì, ai cũng làm như thế. Mình cứ bước nhịp nhàng, gánh nước trên vai, đi một hơi về nhà, nước không rớt ra ngoài một giọt. Ngoài chợ, hầu hết thức ăn như bún, bánh, bắp, xôi,…thậm chí thịt, cá cũng đều được gói bằng lá chuối, lá sen. Không ai chê mất vệ sinh, không ai trúng thực vì lá sen, lá chuối. Ngày Tết, ngày giỗ, ông bà còn dùng lá chuối để gói bánh ít, bánh tét để cúng và biếu bà con.
Con nít còn dùng lá chuối cất chòi chơi, dùng lá sen làm dù, làm lộng che cho cô dâu trong trò đám cưới. Mấy đứa con trai, dùng lá chuối xé te tua, làm quần áo ra trận, đánh giặc. Con nít chơi cả ngày không chán, la hét nhoi trời. Chiều chiều, còn trốn nhà đi tắm sông, con nít nhờ lặn ngụp sớm, đứa nào cũng biết lội. Không ai dạy bơi, cứ chòi đạp lung tung, miễn sao xuống nước nổi lên là biết lội, người ta gọi là bơi chó…được cái, không nghe con nít bị té sông chết trôi.
Nghe đâu, nước ngoài, trong nước đã rụt rịt dùng lá chuối, lá sen gói đồ như ngày xưa…làm mình chạnh lòng nhớ một thời tưởng chừng đã xa…luôn!


BỎ BIÊN CHẾ, MỘT TRẬN CHIẾN KHỐC LIỆT!
Cũng phải nhìn nhận, bỏ biên chế sẽ giúp cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, cố gắng về mọi mặt, để làm việc lâu dài, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công việc mà mình được phân công. Đào thải, đó cũng là tuân theo quy luật, cho xã hội phát triển.
Người có đủ năng lực và phẩm chất, có tay nghề cao, sẽ không lo ngại chi, bỏ hay không bỏ biên chế không ảnh hưởng gì đến họ, mỗi năm chỉ ghi lại hợp đồng, cho đúng thủ tục.
Điều lo ngại và khốc liệt ở chỗ người thực thi. Sếp có thật sự công tâm, có dám quyết định ký hay không ký hợp đồng nhân viên của mình. Trong môi trường làm việc cạnh tranh, ai cũng lo sợ sang năm sẽ không được ký hợp đồng lại, mất đoàn kết, ganh đua ngấm ngầm sẽ nảy sinh. Sẽ có trường hợp, không ký hợp đồng với người cũ, nhận người mới, đi đôi với cái bì thư (gọi là chạy việc). Sẽ có trường hợp, ai phê bình, góp ý, nói lời trái tai nhiều quá, thì hết hợp đồng cắt liền. Sếp vì chạy thành tích, sẽ tẩy chai nhân viên hay đau ốm, con nhỏ, bận chăm sóc cha mẹ già…nói chung là chưa đủ điều kiện toàn tâm, toàn ý cho công việc. Để rồi biến cái tổ chức, cơ quan thành chỗ bất nhân?
Bỏ biên chế, Nhà nước sẽ không giữ được người tài, đức, đó là điều chắc chắn.
Người thật sự có tài, có đức, họ sẽ không chú trọng đến vật chất. Điều họ quan tâm là ở chỗ họ được cống hiến tối đa, và được nhìn nhận. Nhà nước muốn trọng dụng họ thì có chính sách đãi ngộ, chứ họ không đòi hỏi. Hiểu được họ thì mới có thể dùng họ. Một số rất ít người, vì lòng yêu nước, muốn cống hiến cho đất nước, họ ở nước ngoài, trở về. Họ đâu cần nhà cao cửa rộng, tiền bạc gì. Nhiều khi chỉ một câu nói, một hành động cũng thu phục được họ. Bất cứ hành động, thái độ nào tỏ ra lạnh nhạt, tính toán, lợi dụng, gò bó,…ngay lập tức họ rời bỏ.
Bỏ biên chế, mặt trái của nó muôn hình vạn trạng. Mặc dù đó là một việc cần làm, nhưng phải hết sức thận trọng. Cần phải có một đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thật tốt, thật chắc mới hy vọng từng bước thành công. Hiện giờ, đội ngũ đó rất mỏng, rất ít. Bài học sát nhập, giảm biên chế đang còn đó, giảm chỗ này, phình chỗ kia, phát sinh chạy chức, chạy việc,…làm đến đâu, tiêu cực chạy theo đến đó.


GIÁO GIÀ LÊN TIẾNG:
CON TRÂU CHẾT TRÊN ĐƯỜNG CÀY CŨNG HAY!
Thật ra đã là giáo già thì ai nói gì nói, nhịn chút xíu cho qua…
Nói đây là nói cho vui, mong mọi người hiểu thêm, chứ tội nghiệp giáo già lắm! Rốt lại, trong bài Xin đừng tăng tuổi hưu cho nhà giáo, nêu mấy vấn đề của nhà giáo già:
-         Sức ì lớn, có nghĩa là không chịu học hỏi, không đổi mới các hình thức tổ chức, phương pháp dạy học theo xu hướng hiện đại, khiến học sinh nhàm chán, không muốn học.
-         Sức khỏe suy giảm, nảy sinh trạng thái tâm lý tiêu cực, khó khăn, cáu gắt với học sinh, thậm chí trách phạt học sinh, gây tâm lý sợ hãi, chán học ở học sinh.
-         Ban lãnh đạo nhà trường cả nễ nhà giáo lớn tuổi, lớp trẻ không dám góp ý.
-         Thong thả dạy, vừa dạy vừa ngồi, đến tháng lãnh lương, ý nói làm việc cầm chừng, chờ hưu.
·        Kết luận: Chỉ có học sinh là thiệt thòi!
Tôi, đã 53 tuổi, dạy học 35 năm. Xuất phát điểm tôi và các bạn bè của tôi không được như các em trẻ. Chúng tôi chỉ được học 1 năm ở trường, tính luôn kiến tập và thực tập. Bên cạnh đó chúng tôi còn phải lao động, đào kênh, lắp ao, cắt lúa,…Còn một điều quan trọng là chúng tôi không đủ cơm ăn, phải ăn độn (khoai, gạo mì, bột mì, rau,…). Chúng tôi ra trường, mỗi đứa đi một nơi, hầu hết là vùng biên giới, vùng sâu, vùng khó khăn. Trong điều kiện khó khăn nhất, chúng tôi vẫn dạy tốt, lớp lớp học trò đã thành danh. Nhà dân là nơi mà chúng tôi được tôi luyện. Cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân, chúng tôi đã trưởng thành lên …Tôi kể sơ qua, để cho các em trẻ thấy rằng xuất phát điểm chúng tôi không bằng các em, nhưng kỹ năng sống các em còn kém xa, chẳng hạn như: hòa đồng; chịu đựng thiếu thốn vật chất; biết tự lập và quan tâm người khác; biết lao động và quý trọng của cải, biết tiết kiệm, biết chia sẻ, yêu thương!
Hồi đó, không có máy tính, không có mạng, nhưng chúng tôi có sách vở. Ở những nơi tăm tối, ánh đèn dầu khi mờ khi tỏ, chúng tôi vẫn đọc sách, vẫn học hỏi để tiến bộ, thậm chí còn học cả tiếng Anh và khiêu vũ. Tôi, và bạn bè của tôi, nhà giáo già, vẫn không ngừng học tập để nâng cao về trình độ học vấn lẫn chuyên môn. Kính lão đã đeo, lưng đã yếu mà vẫn ngồi miệt mài luyện chữ cho học sinh noi theo. Sử dụng máy tính, soạn giáo án, tìm tài liệu, tổ chức dạy học, vận dụng phương pháp hiện đại… làm được hết, sức bền, sức dai khó ai sánh kịp.
Tôi cũng chấp nhận một điều, sức khỏe suy giảm, sự linh hoạt không còn như trước, nhưng đừng nói vừa ngồi vừa dạy, dạy cho qua ngày…tội lắm, sai rồi (có đúng  với  một số nhà giáo, nhưng ai trì trệ thì trì trệ, trẻ cũng vẫn trì trệ, lười biếng). Chúng tôi sống thiếu thốn vật chất một thời gian dài, sức khỏe suy giảm sớm cũng hợp lý. Do đó, nên cho giáo viên chọn lựa, xin nghỉ sớm  hoặc trễ trong thời gian 5 năm.
Tôi cũng nghĩ mình già, chắc mình xấu xí, cáu gắt, thấy ngán mình. Nhưng học trò của tôi tuyên bố rằng không ngán cô, muốn học cô hoài, chỉ vì lý do, cô dạy con biết nhiều thứ (có khi tôi dạy thêm ngoài giờ cho học trò, khi chúng chưa hoàn thành bài học, nhất là môn Thủ công. Bạn tôi vì sợ dạy không kịp, sáng nào cũng vô lớp 6 giờ rưỡi). Tôi dụ dỗ học trò bằng nhiều hình thức, và biến lớp học thành sân khấu nhỏ mỗi khi học Kể chuyện, chúng cười vui đã đời…
Tôi có trách phạt, tùy trường hợp mà trách phạt, nếu không thưởng phạt nghiêm minh thì học trò sẽ không ngoan. Tôi, giáo già, không sợ chi búa rìu, cha mẹ và học sinhh thương, hiểu là quá hạnh phúc rồi! Chúng tôi, chưa ai từng ỉ lại, mình già, mình không ngán ai mà ngược lại, chúng tôi cố gắng làm gương, làm chỗ dựa cho lớp trẻ, thậm chí hy sinh cả tiền bạc, danh hiệu cho lớp trẻ. Mình như ngọn đèn sắp cạn dầu, cố bừng sáng cho xứng đáng. Tăng hay không tăng tuổi hưu cũng không sao, có khi con trâu chết trên đường cày cũng hay. Xin đừng chê tránh chi nhà giáo già bạn nhé!

Thứ Tư, 24 tháng 7, 2019

Thiên nhiên tươi đẹp


Ghi dấu con tàu không số


Bắt đầu tối, trên nhà hàng nuôi thủy sản nhìn ra





Gành Đá Đĩa





Khu Nhớ về nguồn cội, trên đường xuống Gành









 Đảo Kỳ Co



Tượng Phật đôi, Tịnh xá Ngọc Hòa


Eo Gió



Chùa Ông Núi


Tượng 69m, đường kính 52m, đặt trên Núi Bà cao  cao 120m




Đường lên Hải Đăng, Mũi Đại Lãnh




Hoa dâm bụt


Mũi Điện, nơi đón bình minh sớm nhất VN
(chụp từ Hải Đăng)






Đi 800m theo triền núi, còn phải leo lên chân Hải Đăng và
 chui vào cái ống 5 tầng mới lên được ngọn.

Thứ Năm, 26 tháng 1, 2017

Chùm nhãn lồng chín mọng

Mười sáu tuổi chị đi lấy chồng. Chồng chị và chị không biết mặt nhau cho đến ngày đi coi mắt. Trước ngày đám cưới, lâu lâu anh qua làm rể, chị và anh cũng không nói chuyện để làm quen…
Chị hay kể chuyện cuộc đời mình cho con cháu nghe, để chúng thấy bây giờ chúng sung sướng hơn nhiều. Chúng được yêu, được chọn lựa vợ chồng…Không như chị. Rất may cho chị gặp anh hiền, hai năm trời chị không cho anh đụng vào người mình, vậy mà sau đó chị sanh cho anh tới sáu đứa con. Bây giờ già rồi, ngồi nhắc lại chuyện xưa để cười vui. Mấy đứa cháu của chị nó thích nghe chị kể chuyện làm dâu, nghe y như chuyện cổ tích, thiệt lạ! Con dâu không được bước lên nhà trên. Khi ăn cơm, phải ngồi gần nồi cơm để bới cơm cho cả nhà, lo bới cơm không ăn được bao nhiêu, đói từ ngày này qua ngày khác. Anh thương, dấu đồ ăn vô buồng cho chị ăn. Rất may, anh là người biết lo. Rồi anh trốn quân dịch, chị ở nhà có bầu thằng Hai, đẻ con, nuôi con một mình; thay anh phụng dưỡng cha mẹ anh và chăm sóc tám đứa em chồng, vì anh là anh Hai. Chị ở nhà hết chuyện ngoài đồng thì đến chuyện trong nhà. Con chị thì mấy đứa em chồng nó thay nhau giữ, chỉ có tối chị mới được gần con, ôm con ngủ trong mệt mỏi rã rời, đến nỗi không còn cảm giác thương nhớ anh là gì nữa.
Con Ba giận chồng xách gói về nhà chị. Thương con chị không nói gì. Để từ từ cho nó nguôi giận rồi chị khuyên răn nó. Hồi đó, chị làm dâu khổ trăm bề cũng cắn răng mà chịu, “con gái chê chồng của một đền hai”, đi như vậy là “bôi tro trát trấu” lên mặt cha mẹ mình, dòng họ mình. Nhưng bây giờ, chị hiểu con, chị không cảm thấy xấu hổ gì, chỉ vì tiếng tăm hư ảo mà vô tình mình đẩy con gái mình vào chỗ chết sao? Hỏi ra mới biết chồng nó đi uống bia ôm. Cái thằng coi “lù khù” vậy mà “vác lu chạy”. Bạn bè bây giờ cũng lạ, khích nhau vài câu là chơi cho tới bến, không kể gì tới vợ con.  Đâu vài bữa, chị tuyên bố: “Tao nuôi hết nỗi rồi, ai về nhà nấy đi”. Thằng rể mở cờ trong bụng, rước vợ về gọn hơ (mới phạm tội lần đầu mà biết ăn năn, được tha bổng).
Con dâu thứ hai sanh, mẹ nó mất, không chị em gái, con trai chị vụng về, thôi thì chị đi nuôi…Hồi đó, chị sanh con đầu lòng, má chị không cho chị bước xuống đất đúng một tháng. Nằm than, dằn bụng, xông hơ, uống nước đái con nít, ở dơ không gội đầu, ăn kho quẹt trường kỳ…khổ dàn trời mây. Bây giờ, con dâu chị nó nghe lời bạn bè, nó sợ cho con bú xấu, nó tập con nó bú sữa bình. Nó nghe lời bác sĩ, ăn uống không kiêng cữ gì. Mới sanh có một ngày nó tập đi…cho máu huyết lưu thông. Vì sợ cực, nó bọc thằng nhỏ trong tã giấy suốt, chị xót ruột vì thấy cháu mình bị hăm, lở loét, da nó non quá mà làm sao chịu thấu. Hồi chị sanh ba nó, giấy báo không có mà lót, phải cắt lá nhàu làm tã. Thằng cha nó lớn nhanh, học giỏi không thua kém ai. Nhưng chị không nói ra làm gì, đời nào theo đời đó. Nói nó ghét. Đời má chị không cho đàn bà học chữ, vì nếu biết chữ sẽ viết thư cho trai. Đời chị thì được đi học, phụ nữ “bình quyền”, còn được làm công chức, nhà văn, nhà thơ…Nhưng đàn ông được năm thê bảy thiếp, đàn bà vẫn khổ dài dài…Bây giờ đến đời con chị, nam nữ bình đẳng, một vợ một chồng, có luật hẳn hoi, mỗi đời mỗi khác. Thương con, chị cho qua hết. Chị sống không bao lâu nữa, nói chi cho nó ghét.
Chị có một người bạn hàng xóm, vài bữa là qua khóc với chị. Má chồng ở chung con trai và nàng dâu. Bà nội thương cháu nội, có gì ngon cũng để dành cháu nội ăn. Một hôm bà nội phát hiện ra nàng dâu nói với con mình: “Con không được ăn, dơ lắm”. Chị nhớ hồi đó, khi bà nội nó sanh thằng cha nó, bị bệnh sốt rét, da vàng khè, xanh chành, không đủ sữa cho con bú. Nó đói, nó khóc, dỗ hoài không nín, phải ẵm đi giáp làng giáp xóm. Gặp năm đói khổ, bà con thương tình có gì cho nấy, chỉ có nước cơm với đường hoặc cháo trắng…Vậy mà thằng nhỏ lớn, mạnh cùi cụi. Bà nội ở chung với con cháu mà suốt ngày như cái bóng thật là tội. Con dâu nó chê bà dơ, nó không nói ra, nhưng bà biết. Nó không cho bà ẵm con nó đi qua hàng xóm, nó nói ngoài đường có nhiều vi trùng. Nó đâu biết rằng chồng của nó hồi nhỏ hết người này tới người kia bồng ẵm, lê la khắp xóm…Cái thời chị và bà bạn hàng xóm của chị, có một anh chăn trâu, ăn thì ăn gạo sống, uống thì uống nước vũng (thấy nước trong trong là lấy tay bụm lên uống), mãn năm, mãn tháng có thấy ảnh đau ốm gì, mạnh sần. Thấy tình cảnh bạn, chị nghĩ đến mình. Chị ở một mình, không có gì đụng chạm. Có điều, ở một mình buồn…nhớ…thương…
Thấy cái cần câu nhớ thằng Hai (nó câu cá giỏi lắm, ai cũng nói nó có tay sát cá). Thấy mấy bình hoa vải nhớ con Ba (nó ham nên học lóm người ta về làm, đẹp không thua ai)…Ngồi buồn chị soạn quần áo cũ, nhớ từng đứa, từng đứa…Nhớ ngày sanh chúng ra, đến ăn thôi nôi, đứa nào bắt cái gì chị còn nhớ. Thằng Hai, ngủ một giấc dậy đói bụng, khi cho một mâm đồ để bắt một thứ, nó chớp cục xôi rồi ngồi ăn ngon lành, ai cũng nói thằng này số sướng, có người làm sẵn cho nó ăn. Mấy đứa con gái thì bắt cây viết, cái kéo, cái lược…Chỉ có con Tư thì không bắt gì. Nó nhìn hết cái mâm, rồi ngồi buồn so. Mọi người thúc giục: “Bắt đi con, của con đó, bắt đi!”. Nó nhìn mọi người rồi nhìn chị, nó đứng dậy ôm chị, dấu mặt trong ngực chị. Những người lớn tuổi nói: “Con nhỏ này không ham gì, chắc sau này đi tu”. Cuối cùng nó không chờ lớn để đi tu, nó bỏ chị đi lúc vừa bốn tuổi.”Con khôn không phải con mình”, ông bà mình hay nói như vậy. Nó mới bốn tuổi mà nó đọc thuộc lòng hết sách tập đọc của chị nó, không sai một chữ, chị mừng thấy con mình thông minh  nhưng chị cũng lo…Nó đang chạy chơi với anh chị nó, bỗng dưng nó xỉu xuống, giựt giựt vài cái rồi đi luôn. Chồng chị bồng con trên tay, con nhỏ nằm dịu nhỉu, ấm hỉm. Chị làm sao quên được cái cảm giác chồng chị và mấy người hàng xóm cưa bộ ván đóng quách cho con. Mỗi đứa con là một núm ruột của chị. Phải chi nó đau bệnh, chạy chữa cho nó hết tiền hết bạc chị không hối hận, nó đi đột ngột…chị không đành lòng.
Nhìn lên bàn thờ thấy anh. Anh đi cũng đột ngột như con Tư. Anh ở ngoài vườn mía, vô nhà uống chưa hết ly nước trà, anh than mệt, chị khuấy ly nước chanh chưa tan đường thì anh đi…Nay đã bốn năm rồi…Vườn rộng thênh thang, ngôi nhà này nhìn đâu cũng thấy hình bóng chồng con, nhìn đâu cũng thấy kỉ niệm…Chị nuôi mấy con mèo cho vui, mèo mẹ đẻ mèo con…lớn nhỏ tám con. Nhờ có nó, chị nấu cơm đúng bữa cho nó ăn rồi chị ăn luôn.
Con chị nó gắn điện thoại để tiện liên lạc với chị. Tụi nó lúc nào cũng bận rộn, nên ít khi gọi cho chị. Nhớ con cháu quá, chị gọi. Nói vài câu thì chúng cúp máy…Chị an ủi mình: “Nước mắt chảy xuôi”. Khi điện thoại reo là y như rằng: “Má ơi, thằng Nam nằm nhà thương, má lên phụ con”; “Vợ chồng con đi công tác vài ngày, mà lên ở với con Dung dùm con”; “Chị giúp việc nghỉ rồi, con chưa tìm được người, má coi dưới quê có ai mướn dùm con”; …
Vui nhất và bận rộn nhất là mấy tháng hè. Cháu chị nó về thăm chị. Tụi nó giỡn, nó chơi, nó bày đầy nhà…chị vẫn vui. Tối nó quấn bên chưn chị để nghe chị kể chuyện đời xưa. Chị thấy mình không bất hạnh như bà bạn hàng xóm.

Sáng nay, chị đi tìm hái nhãn lồng chín. Lúc còn nhỏ, con chị đứa nào cũng thích ăn nhãn lồng chín. Mỗi khi đi làm ruộng về chị hay tìm hái cho chúng. Chị cột những trái nhãn lồng thành từng chùm. Bên ngoài từng trái nhãn lồng vàng có bọc một lớp màu xanh, giống cái lồng. Thật là thích thú khi bóc cái lồng, giựt cuống, có một cái lỗ trống rồi đưa lên miệng mút, vừa thơm, vừa chua chua, ngọt ngọt…Ăn hết một chùm vẫn còn thấy thèm. Chị hớn hở mang về cho cháu, mỗi đứa một chùm. Chưa kịp nghe bà chỉ cách ăn thì nàng dâu của bà lên tiếng: “Má vô ăn sáng”. Thấy nó nhìn mấy đứa nhỏ bà biết. Bà nghe lỏm bỏm: “ăn chết”, “dơ lắm”, “rửa tay ngay”,…Ừ, dù sao nó nói cũng không để chị nghe, tại vô tình chị nghe…

Tết 2017